Chat odasi sohbet cember makinesi kelebek sohbet sohbet otomatik cember makinesi plastik cember serit cember plastik cember makinasi ilac cesitleri oyun sitesi gumus bileklik gumus kolye kurtköy escort ateşehir escort kartal escort pendik escort tuzla escort pendik escort sex izle pendik escort istanbul escort beylikdüzü escort ataşehir escort ankara escort ankara escort ataköy escort şirinevler escort pendik escort pendik escort ankara escort mecidiyeköy escort istanbul travesti restbet bonus bahis bonus betpas yeni adresi bahis bonusu bahis online bahis mobil bahis oyna restbet restbet yorum poker bayileri canli casino en iyi bahis burolari kacak bahis sitesi restbet betpas giris epoksi zemin kaplama nice bariyer mantar bariyer istabul nice türkiye l koltuk takımı Bft türkiye nice servis pil sitesi nice servis nice motor evden eve nakliyat mum ağacı otomatik kepenk tamiri Dış cephe mantolama pergola pendik escort başakşehir escort şirinevler escort mecidiyeköy escort istanbul escort escort istanbul sex hikayeleri nişantaşı escort istanbul escort bahcelievler istanbul escort fuck google kurtkoy escort Hướng nghiên cứu | CARE RESCIF HCMUT

Hướng nghiên cứu 1: NƯỚC VÀ MÔI TRƯỜNG

Nghiên cứu sự chuyển hoá kim loại vết trong nước sông Sài Gòn

Kim loại vết (TM) là chất ô nhiễm quan trọng đối với hệ sinh thái thủy sinh do độc tính và khả năng tích lũy trong các sinh vật. Kim loại vết có nguồn gốc từ quá trình xói mòn và rửa trôi đất tự nhiên được vận chuyển chủ yếu thông qua các chất rắn lơ lửng (SS). Tuy nhiên, các hoạt động của con người có thể được coi là một nguồn gây ô nhiễm chính đối với môi trường nước (sông ngòi, cửa sông và ven bờ biển). Các cơ chế sinh địa hoá diễn ra trong lòng sông, cửa sông hay bùn trầm tích đóng vai trò quan trọng trong việc phân phối các kim loại vết giữa các pha hạt và các dạng tồn tại của chúng. Sự tích lũy sinh học và độc tính của các kim loại vết đối với các sinh vật phụ không những phụ thuộc vào các dạng tồn tại và phản ứng của kim loại vết với bề mặt tế bào mà còn phụ thuộc vào liên kết giữa chúng với các vị trí nhạy cảm bên trong tế bào.

Nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào sự chuyển hoá các kim loại vết và siêu vết ở vùng sông – cửa sông – ven bờ biển thông qua mạng lưới thức ăn thủy sinh. Đồng thời, chúng tôi chú ý đến các đặc tính thủy động lực (dòng chảy, thủy triều), động lực học chất điểm (dạng hạt) và điều kiện môi trường hóa lý trong khu vực.

Sự thay đổi điều kiện thủy văn, điều kiện hóa lý và sự hiện diện của các môi trường khác nhau (nuôi trồng thủy sản, nông nghiệp lúa nước, khu vực dân cư, vùng ngập mặn, vùng cửa sông) ở lưu vực sông Sài Gòn là môi trường lý tưởng để tiến hành các hoạt động nghiên cứu. Một nhóm nghiên cứu về đề tài này đã được thành lập để thực hiện các hoạt động nghiên cứu sau đây:

  • Đánh giá cơ sở về hàm lượng kim loại vết có trong trầm tích lơ lửng và nước sông Sài Gòn
  • Các hoạt động của một siêu đô thị (Tp. HCM) có tác động đến động lực của các hạt và liên kết của các hợp chất vô cơ liên quan?
  • Vai trò của độ dốc của cửa sông đối với việc phát tán các kim loại vết từ sông Sài Gòn đến vùng ngập mặn và ven bờ biển
  • Sự tích lũy sinh học của các kim loại vết trong lưới thức ăn.

Nghiên cứu này được thực hiện với sự hợp tác giữa NCS. Lê Minh Tâm (Trung tâm Nghiên cứu về Nước khu vực Châu Á (CARE), TS. Đinh Quốc Túc, PGS.TS. Nguyễn Phước Dân, KS. Nguyễn Duy Khánh, KS. Nguyễn Hữu Việt (khoa Môi trường và Tài nguyên, trường Đại học Bách khoa TP.HCM) và TS. Emilie Strady (thuộc LTHE, F-38000 Grenoble, Pháp).

Nghiên cứu sự vận chuyển rác thải nhựa và vi hạt nhựa trong dòng chảy Sông: lấy mẫu để xác định các dòng vận chuyển?Quản lý rác thải nhựa là một trong những thách thức môi trường mới. Mặc dù rác thải nhựa hiện diện khắp nơi, từ các mẩu nhựa lớn (macroplastiques) đến các vi hạt nhựa (microplastics – MP <5 mm) trong môi trường lục địa, sự phân bố và động thái của chúng trong các khu vực như hồ, lòng sông, cửa sông vẫn chưa được hiểu rõ so với trong môi trường biển. Các vấn đề về vận chuyển và tác động của rác thải nhựa đối với môi trường trên cạn đến nay vẫn chưa được giải quyết. Ở các nước phía Nam, đặc biệt là Việt Nam, quản lý rác thải nhựa yếu kém (Việt Nam đứng thứ tư trên thế giới, tạp chí Science ngày 13 tháng 02 năm 2015) dẫn đến sự phát tán đáng kể đến các vùng nước biển ven bờ. Việc xả thải một lượng lớn rác nhựa ra môi trường làm mất đi hình ảnh mỹ quan của các đô thị lớn như thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày nay, sự vận chuyển rác nhựa và vi hạt nhựa trong các dòng chảy sông ngòi ít được biết đến. Về mặt lịch sử, nguyên nhân chính là do vấn đề này gần gũi với hải dương học sinh học. Do vậy, nguồn gốc và sự vận chuyển trong lục địa của vi hạt nhựa là vấn đề đương đại. Và các chiến lược lấy mẫu được sử dụng để thu thập, định lượng các vi hạt nhựa thì rất khó để chuyển vị vào dòng chảy trong sông. Những nghiên cứu đã thực hiện ở môi trường lục địa nhằm định lượng và xác định dòng vận chuyển của các vi hạt nhựa căn cứ vào việc lấy mẫu nhanh bằng vợt lưới phiêu sinh vật hoặc thiết lập một mạng lưới trên mặt cắt ngang sông trong một khoảng thời gian nhất định. Tỷ lệ diện tích bề mặt/khối lượng (sa/v) của các mẩu nhựa trong nước mặt nhỏ hơn nhiều so với tỉ lệ này trong các vòng xoáy cận nhiệt đới đại dương. Khối lượng của các vi hạt nhựa thu hồi sẽ trở thành một tham số vô cùng quan trọng trong việc xác định nồng độ vi hạt nhựa đi vào dòng chảy Sông và trong những phân tích hóa học tiếp theo.

Mục tiêu nghiên cứu nhằm tối ưu hóa một chiến lược lấy mẫu và định lượng rác thải nhựa và vi hạt nhựa trên lưu vực sông Sài Gòn, Việt Nam. Sau cùng, xem xét tính đồng nhất của sự vận chuyển các hạt vật chất trong cột nước (bed load: hình thức chuyển động của bùn cát) và xác định các dòng vận chuyển rác thải nhựa trong Sông.

Nghiên cứu này được tiến hành với sự hợp tác giữa TS. Bruno Tassin, TS. Johnny Gasperi và TS. Rachid DRIS (thuộc Phòng thí nghiệm môi trường nước và hệ thống đô thị – LEESU, Pháp), NCS. Lê Minh Tâm (Trung tâm Nghiên cứu về Nước khu vực Châu Á (CARE)) và TS. Emilie Strady (thuộc LTHE, F-38000 Grenoble, Pháp).

Hướng nghiên cứu 2: NƯỚC VÀ TAI BIẾN

Những con sông lớn và các vùng đồng bằng châu thổ là một trong những hệ sinh thái thủy sinh phong phú nhất trên thế giới. Chúng biến đổi rất nhanh chóng, tùy thuộc vào tác động của con người, của biến đổi khí hậu đang diễn ra cũng như chu trình phản hồi liên quan (Anthony và Gratiot, 2012; Bauer và al, 2013.). Việc nghiên cứu tính thích nghị của các đồng bằng châu thổ với nhiều loại tác động nêu trên cho phép chúng ta đo lường, hiểu biết và dự đoán những thay đổi sẽ diễn ra trong dòng nước và bùn cát; cơ chế vật lý và sinh hóa chi phối dòng chảy và đặc biệt là quá trình phân định vùng giữa giai đoạn hạt và giai đoạn hòa tan.
Cách tiếp cận liên ngành cho phép chúng ta, trong ngắn hạn và trung hạn, trả lời câu hỏi quan trọng: việc đô thị hóa vùng ven biển có tác động như thế nào lên chất lượng môi trường?
Đặc biệt, chúng tôi mong muốn phác họa quá trình sinh khối (hấp thụ chất dinh dưỡng) để có thể hiểu nước thải từ Thành phố Hồ Chí Minh tác động như thế nào đến vùng ngập mặn-Cần Giờ, khu vực được UNESCO công nhận.

Những con sông lớn và các vùng đồng bằng châu thổ là một trong những hệ sinh thái thủy sinh phong phú nhất trên thế giới. Chúng biến đổi rất nhanh chóng, tùy thuộc vào tác động của con người, của biến đổi khí hậu đang diễn ra cũng như chu trình phản hồi liên quan (Anthony và Gratiot, 2012; Bauer và al, 2013.). Việc nghiên cứu tính thích nghị của các đồng bằng châu thổ với nhiều loại tác động nêu trên cho phép chúng ta đo lường, hiểu biết và dự đoán những thay đổi sẽ diễn ra trong dòng nước và bùn cát; cơ chế vật lý và sinh hóa chi phối dòng chảy và đặc biệt là quá trình phân định vùng giữa giai đoạn hạt và giai đoạn hòa tan.

Cách tiếp cận liên ngành cho phép chúng ta, trong ngắn hạn và trung hạn, trả lời hai câu hỏi quan trọng::
Câu hỏi thứ 1) Đâu là nguyên nhận gây ra sạt lở khu vực châu thổ sông Mêkông cũng như nguyên nhân của việc gia tăng sạt lở tại khu vực này trong mười năm trở lại đây (trung bình mỗi ngày mất khoảng diện tích bằng 1.5 sân bóng đá – giai đoạn 2007-2012)?
Câu hỏi thứ 2) Đâu là giải pháp bảo vệ bờ biển, có tính khả thi cao và được xã hội chấp nhận, trong môi trường ven biển ngập mặn, trong đó có tính đến cân bằng sinh-địa mạo tự nhiên góp phần vào quá trình kiến tạo vùng đồng bằng châu thổ trong hơn 3500 năm ?

Hướng nghiên cứu 3: NƯỚC VÀ SỨC KHOẺ

Dự án nghiên cứu về cơ chế phóng thích Arsen trong đất và nước ngầm tại khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, Việt Nam đã được thảo luận và thai nghén từ cuối năm 2013, và hình thành từ đầu năm 2014 (được gọi là Nhóm Arsen). Nhóm Arsen bao gồm các thành viên có các chuyên môn đa dạng khác nhau, bao gồm: vi sinh môi trường, địa hóa, địa chất thủy văn và kỹ thuật – quản lý tài nguyên nước. Nhóm Arsen được thành lập và chủ trì bởi 3 trưởng nhóm đến từ Đại học EPFL (Lausanne, Thụy Sỹ), Đại học Grenoble (Pari, Pháp) và Trường Đại học Bách khoa Tp.HCM. Các thành viên của nhóm gồm có:

Đại học EPFL, Lausanne, Thụy Sỹ

  • Giáo sư Rizlan Latmani-Bernier (Trưởng nhóm phía EPFL)
  • Tiến sĩ Matthew reid
  • Tiến sĩ Maria Pila Asta
  • Tiến sĩ Yuheng Wang
  • Manon Frutschi

Đại học Grenoble, Pháp

  • Giáo sự Laurent Charlet (Trưởng nhóm phía Grenoble)
  • Tesserand Delphine
  • Phan Thị Hải Vân (Nghiên cứu sinh)
  • Bonnet Timothee (Học viên cao học)

Đại học Bách khoa Tp.HCM (ĐHBK), Việt Nam

  • Phó Giáo sư Võ Lê Phú (Trưởng nhóm phía ĐHBK)
  • Tiến sĩ Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh
  • Thạc sĩ Hồ Thị Ngọc Hà
  • Phạm Công Hoài Vũ (Học viên cao học)
  • Nguyễn Thị Bảo Tú (Học viên cao học)

Khảo sát về tình trạng thực tế của nước uống ở các cơ sở y tế cấp quận huyện trong khu vực Tp. Hồ Chí Minh cũng như đồng bằng sông Cửu Long. Từ đó nghiên cứu phát triển một công nghệ xử lý nước cấp an toàn (Water Kit) cho các cơ sở y tế này. Từ đó có thể mở rộng áp dụng cho những nơi khác như các trường học hoặc các khu vực công cộng. Nghiên cứu này tiến hành theo bốn giai đoạn sau đây: (1) Đánh giá việc tiếp cận với nước uống an toàn của các cơ sở y tế cấp quận tại Tp. Hồ Chí Minh và khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long; (2) Phân tích các lựa chọn xử lý nước dựa trên chi phí thấp, hiệu quả xử lý chất ô nhiễm cao và vận hành dễ dàng. (3) Đề xuất và phát triển một bộ xử lý nước cấp an toàn – Water Kit; (4) Triển khai thương mại hóa hệ thống rộng rãi cho khu vực.

Sản phẩm của nghiên cứu: 01 bài báo đăng trên tạp chí quốc tế, 01 bài báo đăng trên kỷ yếu hội nghị quốc tế & đào tạo 2 kỹ sư kỹ thuật môi trường nước.

Lab-scale water treatment kit at CARE lab

tim hieu http://bmbsteel.com.vn/vi/ket-cau-thep/ bmb http://chuatrisuimaoga.com/
hoc trung cap su pham mam non tphcm